Dám hi vọng
Khi ta chỉ là con ốc nhỏ của một guồng quay hoàn toàn không thuộc về mình.
Thỉnh thoảng đâu đó tôi đọc được bài viết về thế hệ của sự tuyệt vọng: lớn lên đúng thời Covid, bị giam trong nhà không thể đi học hay đến dự lễ tốt nghiệp cấp 2, cấp ba. Vừa vào đời thì chiến tranh Gaza, Ukraine, Iran, thương chiến Mỹ với thế giới xảy ra , để lại dư chấn nặng nề cả về tinh thần, niềm tin vào lẽ phải và khó khăn thấy rõ về kinh tế. AI xuất hiện đúng khoảnh khắc ra trường, họ không thể tìm nổi việc làm vì việc cho người mới vào nghề bị cắt sạch do AI.
Người viết liệt kê đặt đúng điểm rơi của khoảnh khắc cần nhiều hi vọng nhất (lớn lên, tốt nghiệp, tin vào lẽ phải,…) để thấy chấn thương xã hội mà thế hệ mới này gặp phải, dường như đánh gục họ trước khi kịp trưởng thành.
Tôi muốn đi qua thử hành trình của sự bi quan này để thấy chúng ta nhận ra gì từ bức tranh đó.
Năm 2020
Khi đại dịch xảy ra, Việt Nam cấm hoàn toàn người Việt trở về quê hương, hoặc bạn phải trả số tiền hối lộ từ 5,000-12,000 USD để được về quê. Nạn nhân của những chiếc vé siêu đắt này là du học sinh, người đi làm việc ở các quốc gia khác. Nhóm du học sinh bị cắt ngang hành trình học tập và trưởng thành và phải định vị lại từ đầu họ phải làm gì tiếp theo. Người làm việc mất số tiền vé và tiền công lao động tương lai, cũng như tiền môi giới lao động họ đã trả (số tiền mà họ ra đi để làm tích góp cho gia đình và trả nợ).
Ở trong nước, vài người bạn tôi kể con của họ hỏi sao bé không được đi tổng kết năm học. Đó là câu hỏi qua mau, cuộc sống tiếp tục. Nhưng có một nhóm thiếu niên đã không có ngày tan trường cuối cấp Ba, ngày chia tay bạn bè cùng lớp để bước vào một chân trời khác. Phần này là ô vuông trắng trống rỗng không thể bù đắp. Có em học sinh đã kể với tôi em không biết hai người bạn thân của em làm gì và đi đâu sau thời cấp Ba. Vài tháng không đi học cuối năm đủ để làm họ xa nhau không trở lại, dù tin nhắn, điện thoại thời nay sẵn có.
Sự tạm bợ của tình bạn gắn bó đầu đời sẽ trở thành tiền đề của thời lớn lên: họ sẽ tiếp tục tuổi trưởng thành trong khung trời mới, nơi sự gặp gỡ dễ dàng đến mức không cần suy nghĩ, và sự rời đi chỉ cần dán nhãn “ghosting” là đủ. Sự gắn bó của học trò cấp ba tạm bợ như buổi sáng vào lớp học, cả trường được thông báo giãn cách và từ đó bạn bè không gặp lại nhau. Sự tạm bợ với du học sinh là bỗng một ngày mở điện thoại ra, phát hiện Việt Nam khoanh vùng cấm bay, họ không thể trở về nhà, trường học ở nước sở tại đóng cửa vô thời hạn.
Sự tạm bợ về cảm xúc này sẽ kéo dài nhiều năm sau nữa. Từ trong giãn cách, giới trẻ chi tiêu hào sảng khi bị “giãn cách” trong nhà, chỉ có app mua sắm hoạt động. Trào lưu “tự thưởng”, mua sắm để “chữa lành”, mua sản phẩm/dịch vụ có giá trị cao, mua trải nghiệm để giải toả sự ngột ngạt của đời sống không thấy rõ tương lai. Người trưởng thành có gia đình ráo riết kiếm tiền, người trẻ ráo riết chi tiêu. Ánh sáng tích cực của nền kinh tế mua sắm mang trong nó tiếng thở phào của sự âu lo nén lại và trút ra.
Cá nhân tôi đã không có tiền để trả 5 đến 12 ngàn đô trên để về nước. Tôi “chọn” mắc kẹt ở Nam Mỹ 10 tháng. Tôi tốn nhiều thời gian để trả lời câu hỏi: thời gian mắc kẹt trong bốn bức tường đó đã thay đổi chúng ta ra sao?
Vài người tôi quen bạc hết tóc khi tôi gặp lại họ 2 năm sau đó. Một số người xoay như con vụ trong mục tiêu tích cóp thật nhiều tài sản để “lỡ đâu lại có đại dịch”, tìm đường đến định cư ở quốc gia nào đó được cho là an toàn nếu lỡ đại dịch xảy ra lần nữa. Quá khứ kinh hoàng thật lặng lẽ. Gánh nặng kinh tế giờ là gánh nặng của sự chuẩn bị cho tương lai bất an. Chủ đề câu chuyện vội vàng và gấp gáp trong nhịp độ làm giàu, đúng vào thời điểm kinh tế trong nước mang màu tươi sáng hơn khi hồi phục.
Ở phía khác, mọi người nói về sức khoẻ, trong chân dung cực đoan nhất mà tôi từng thấy: không tin bác sĩ nữa, không tin vào vaccine, không tin vào thông tin y tế cộng đồng. Giờ đây các hội nhóm chữa mẹo, chữa thiên nhiên, chữa bằng thuốc bí truyền, chữa bằng cỏ cây, chuẩn bị cho những bệnh chưa đến… trở thành điểm đến để mọi người gặp nhau. Dù làm nghề gì, học chuyên ngành gì, mức độ thu nhập ra sao, họ tìm đến nhau với sự mất niềm tin duy nhất: Cái chết là không thể chống lại, giờ ta phải chống lại bằng phương thức nào?
Mất mát trở thành một phần của đời sống tinh thần chung. Hai người bạn của tôi mất cả cha và mẹ trong dịch.
Khi trò chuyện, một anh nhắc đến ngày mẹ anh được đưa vào phòng cấp cứu, và sau đó anh không gặp mẹ nữa. Cơn lo lắng sợ “không gặp lại nữa” trở lại với anh nhiều đến mức khiến anh từ chối gặp gỡ mọi người một thời gian dài để khỏi phải đối mặt với ý nghĩ: liệu mình có gặp lại người này sau hôm nay không.
Trong sự đặc quánh của ký ức chung, không nhiều người muốn nói về những gì đã xảy ra. Quá khứ là cơn ác mộng có thật, nhưng nó đã qua rồi, ta phải sống tiếp chứ.
Cá nhân tôi trở nên cực đoan trong việc cố gắng biến cuộc sống của mình thành một khối linh hoạt nhất có thể: để chạy thoát khỏi những định chế kìm hãm mình trước biến cố. Nếu ngày mai tôi phải đi gấp? Nếu đêm nay tôi phải rời khỏi đây? Nếu chiều nay có người đến lục soát? - Ba câu hỏi trên tôi thực hiện suốt 10 tháng trong đại dịch.
Những chuyến đi vội vã để đến được vùng còn cho phép bay, để rời khỏi nơi lệnh phong toả trở nên cực đoan, để thoát khỏi khu vực xảy ra bạo lực ké dài vì xung đột giữa quân đội và người dân với vấn đề giãn cách. Một đêm xe bus bị chặn giữa sa mạc Atacama, tôi bị đẩy xuống xe vì “là người nước ngoài”. Đứng giữa sa mạc khi trời tối thẫm dần, hơi lạnh tràn đến, không có cách nào khác ngoài sự linh hoạt sẽ đưa mình thoát khỏi nơi này, tôi nghĩ. Suy nghĩ này hằn vào tâm trí nhiều năm sau: lúc nào cũng muốn bản thân phải linh hoạt, phải có khả năng rời đi ngay lập tức.
Có phải chúng ta đã vô thức ướm quá khứ 2020 vào tương lai không?
Cái khó nào là cái khó nào?
Những khốn khó thường làm tôi nhớ lại thời gian mình sinh ra: năm 1987. Những ai sinh vào năm đó sẽ hiểu vài thứ sau đây:
Người mẹ không thể mua được sữa cho trẻ uống nếu mẹ không có sữa và đứa trẻ phải bú ngoài. “Bú thép” là giải pháp: gửi đứa trẻ cho một người mẹ cũng đang nuôi con và có dư sữa. Giải pháp đi kèm khác là khi nấu cơm, đổ nhiều nước hơn, và hớt nước gạo cho trẻ uống.
Những thú vui nho nhỏ của trẻ con như bánh kẹo chỉ dừng lại ở các loại bánh kẹo đơn giản, xa hơn là kẹo singgum của Thái Lan, snack con tôm kiểu Thái. Tới bây giờ, đôi khi các gia đình đưa con đi Thái Lan chơi sẽ ngạc nhiên khi thấy lại các nhãn hiệu kẹo bánh mà hơn 30 năm trước họ từng mua ở tiệm tạp hoá trong xóm. Kẹo bánh Châu Âu hay Mỹ chỉ có dân Sài Gòn mua được ở các cửa hàng chuyên đồ nhập khẩu hoặc có gia đình Việt Kiều gửi về.
Không có truyện tranh, sách báo, ấn phẩm nước ngoài nào trừ truyện tranh và truyện chữ dịch từ Liên Xô tài trợ, giấy đẹp, truyện viết đẹp, chủ đề tuyên truyền. Đến khi các loại truyện như Đô-rê-mon (lần đầu xuất bản 1992 ở VN), truyện Dũng Sĩ Hesman (của hoạ sĩ Hùng Lân), Cô Tiên Xanh (Hùng Lân - Kim Khánh)… trở nên nổi tiếng và sau đó truyện tranh Nhật Bản được dịch nhiều hơn ở VN.
Không có các loại máy móc đắt tiền như máy giặt, máy rửa chén, xe máy thường trị giá nhiều cây vàng, rất ít gia đình sở hữu.
Đời sống khốn khó nặng nề về vật chất đó do lệnh cấm vận của Mỹ với kinh tế Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam khi ấy vận hành bởi những người không có am hiểu về kinh tế, trói buộc trong ý chí chính trị.
Tôi thử so sánh nó với thời gian dịch Covid-19 và các đợt xung đột sau đó: vô số người mất việc làm vì nhà xưởng công ty đóng cửa, hoạt động scam lừa đảo qua mạng, lừa đảo xuyên biên giới hoạt động vô cùng mạnh mẽ. Thương chiến Mỹ - Trung làm nhiều cơ sở sản xuất và doanh nghiệp vừa và nhỏ bị đình trệ hoạt động, người mất việc làm. Chiến tranh Mỹ - Iran làm giá xăng dầu tăng, giá phân bón và các chế phẩm dầu mỏ tăng, lạm phát trở thành gánh nặng có thực từ món ăn hàng ngày đến khi dắt xe máy ra ngoài đi làm.
Khác biệt giữa sự khốn khó khi lớn lên tôi trải qua khác với bây giờ ở điểm: thời đó không có tiền, cũng chẳng có gì để mua, “không có” là trạng thái mặc định để cuộc sống tiến về phía trước. Thời nay tiền làm ra khó nhưng vẫn có vô số thứ phải chi xài: tiền nhà, tiền xe đi lại, tiền ăn, tiền hẹn hò, tiền mua thiết bị di động.
Sự câu thúc của tiền khắc nghiệt hơn. Sự quan tâm lớn nhất xoay quanh đối thoại là tiền vì không ai dám nói “chắc nó chừa mình ra” như thuở trước.
Không thể tìm được việc làm
“AI đang cướp mất việc làm của người trẻ” - là cách suy nghĩ phổ biến hiện nay, có lẽ đến từ nhiều bài viết dịch từ tiếng Anh như tại Mỹ. Tôi tò mò có thật điều này đã xảy ra ở Việt Nam? - Trên các diễn đàn về nghề tự do liên quan đến sản phẩm kỹ thuật số, các công việc bị ảnh hưởng nhiều như dịch thuật, dịch game, copywriting, design ad đơn giản cho social… Nhóm ngành này thường rơi vô những người làm việc từ 20-35 tuổi, đã quen việc, đã có khách hàng, làm tự do, và giờ mất công việc đó.
Một bài viết trên VnEconomy thể hiện biểu đồ thất nghiệp từ năm 2022-2025 cho thấy từ sau đại dịch, số người thất nghiệp không tăng nhưng không giảm, dao động đâu đó ở 2,2%-2,8% , đâu đó hơn 1 triệu người. Bài viết nhấn mạnh, nhóm 15-24 tuổi là nhóm thất nghiệp ở mức cao, nông thôn đông hơn thành thị, ở đây nghĩa là không có việc làm và không đi học. Vậy là cảm xúc chung của người trẻ đúng với điều đang xảy ra với họ: họ là nhóm khó tìm việc nhất. Họ cũng là nhóm không có trang bị nào để chuẩn bị đối phó với làn sóng chuyển đổi phương thức làm việc mới trước AI.
“Lần này sẽ khác?”
Năm 2009, khi tôi tốt nghiệp đại học, 22 tuổi, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam là 4,66%. Gần gấp đôi hiện tại. Năm 2008-2009, hai năm cuối đại học tôi còn nhớ, tiền nhà trọ đột nhiên tăng, số tiền mẹ cho hàng tháng để ăn và trả tiền nhà đột nhiên hết nhanh hơn thường lệ. Khi đó, tôi thường chạy xe máy ngang những tờ rơi giới thiệu việc làm dán trên cột điện, trên tường. Ở ngã tư đèn đỏ, người phát tờ rơi dúi vào tay tôi nhiều tờ card visit của môi giới việc làm. Tôi gọi vào hàng chục số (khi ấy tôi cần tiền và cần việc), đến gặp trực tiếp 5 trung tâm môi giới việc làm, mất 200 ngàn cho vài nơi và nhận ra tất cả các “việc làm” họ giới thiệu là giả hoặc trả công thấp đến mức không thể đủ tiền đổ xăng tới nơi làm.
Tôi không biết 2008-2009 là hai năm sau khủng hoảng tài chính 2007. Khi ấy Việt Nam vẫn còn ít nhiều xa với chuỗi cung ứng toàn cầu, và chậm chạp hơn khi rơi vào cú đổ domino của nền kinh tế thế giới. Khi ấy không ai quanh tôi có tri thức về kinh tế hay tài chính để giải thích cho tôi hiểu điều gì khiến tiền chợ tăng, tiền nhà tăng hay không tìm được việc làm. Năm 2008 giá tiêu dùng tăng gần 20%. Giá tiêu dùng tiếp tục tăng và lạm phát luôn ở mức hai con số đến 2011. Bạn có thể liên tưởng thấy quá khứ này trong những ngày giá xăng dầu tăng vài tháng qua ở hiện tại, kéo theo giá thực phẩm và hàng hoá.
Chúng tôi yên tâm giải thích sự túng quẫn là khó khăn thường nhật đã quen từ lúc lớn lên, là tất nhiên của đời sống, là bàn chân nhúng một nửa trong sự nghèo khổ từ khi bé, và nếu không ngoi lên khỏi sự chết ngộp thì lỗi tại mình. “Tại sao nó tìm được việc làm mà mày thì không?” - là câu nói quen thuộc của phụ huynh khi so sánh con với con nhà khác trong cùng xóm. Chúng tôi không có lựa chọn nào khác, và con đường duy nhất phải tìm ra là nơi nào để làm việc.
Vậy bây giờ chúng ta có cách giải thích sự túng quẫn này theo cách nào khác không? - Giờ ta đã có đủ góc độ và tri thức chia sẻ để hiểu điều gì đang diễn ra quanh mình từng phút. Giá dầu tăng vài ngày trước vì một cuộc đánh bom lập tức thể hiện ở cây xăng, ở tô hủ tiếu đầu xóm. Sự căng thẳng này mới mẻ với cả người già và người trẻ.
Lần này sẽ khác, tôi thường nghĩ vậy khi nghĩ đến khả năng trang bị thông tin và tri thức việc làm dồi dào hơn gấp nhiều lần năm 2008. Âu lo dày đặc hơn (vì ta không vô tri lắm như xưa), hay có lẽ vì sự cách biệt của thành thị và nông thôn ngày càng gần lại, và tổng thể của nỗi âu lo giờ vang vọng thêm hàng triệu lần nhờ mạng xã hội và video ngắn.
Anh tài xế xe ôm chở tôi nói anh nhìn giá xăng tăng giảm mà thấy hoảng loạn. Anh hoảng loạn vì không cách gì tính toán được cho đúng mỗi ngày cày mặt trên đường sự thua thiệt tăng lên hay anh vẫn có lời khi giá cả thay đổi ở khắp các mặt hàng như vậy. Anh kể bữa qua tối về đi ăn cơm, quán cơm có đề biển xin lỗi phải tăng giá. Khi ấy hai chúng tôi chạy ngang một chiếc xe bán bún xào, tờ giấy ghi bảng giá đã sửa số 0 thành số 2, dù chỉ thêm 2.000đ cho một phần ăn.
Niềm tin vào tất cả những gì không có thực
Thỉnh thoảng khi cần đi đâu đó, tôi xếp một chiếc balo chừng 10kg. Có nhiều lý do khiến tôi đi đến quyết định đó:
Tôi không thể vác nhiều hơn trong thời gian kéo dài nếu cần đi bộ xa.
Tôi không thực sự cần gì nhiều hơn 10kg (vì không dùng mỹ phẩm trang điểm, không bị các bệnh cần mang nhiều thuốc hay sản phẩm chăm sóc, không có con nhỏ).
Sự gọn gàng tạo ra linh hoạt khi cần thay đổi (như ngày tôi cần rời khỏi miền nam Chile trong vài giờ trước khi thành phố đóng cửa vì đại dịch).
Sự thiếu thốn vừa phải làm giảm bớt kỳ vọng. Không nhiều kỳ vọng, không tạo ra thất vọng.
Tôi tìm kiếm gì sau khi cố gắng so sánh thời đại bây giờ với thời đại của 18 năm trước hay 39 năm trước? - Tôi không phải tuýp người có niềm hi vọng tuyệt đối vào một xu hướng nào đó. Ví dụ như cách thế hệ tôi tràn đầy hứng khởi rằng Internet sẽ làm cuộc sống tốt lên, về việc làm, tri thức, cơ hội. Có thể bạn vẫn sẽ đọc thấy những bài viết kiểu Việt Kiều về nước làm ăn viết như về VN thấy VN thay đổi quá, đầy cơ hội, ai cũng biết nói tiếng Anh, ai cũng xài internet, người trẻ đi làm việc khắp thế giới, khẳng định thương hiệu lao động người Việt.
Tôi đã hưởng thụ thành quả từ internet và lớn lên thời điểm đó (mọi việc làm tôi tìm được đều từ internet) nhưng không tin rằng nó thay đổi đời mình.
Phương thức lao động không thay đổi đời ta nếu ta không lao động. Tương tự, sự túng quẫn không tiêu diệt được tôi và bạn bè, có lẽ vì chúng tôi vô tri vừa phải để ngoi lên từ sự túng quẫn đó mà không bị đánh gục. Hi vọng không thể biến thành tương lai, và sự tuyệt vọng không hoá thành định nghĩa cuộc đời dài hơn thời hạn của một xu hướng.
Trong giai đoạn xu hướng “Lying Flat” (Nằm thẳng) trở nên phổ biến ở Trung Quốc, tôi tìm được quyển “I Deliver Parcels in Beijing” của tác giả Hu Anyan, kể về nhiều năm tháng anh làm đủ nghề, từ nhân viên soạn hàng ở kho hàng online, khuân vác, chuyển phát hàng bằng xe thồ, công nhân xưởng sản xuất, làm nghề cắt dán biên tập cho các ấn phẩm vi phạm bản quyền. Trong một chương anh viết về thời gian làm ca đêm ở nhà kho sắp xếp hàng chuyển phát và kể về đủ mọi cách để ngủ được sau khi làm cả đêm và tan ca buổi sáng: nhà trọ nóng nực, không có máy lạnh, hàng xóm cãi nhau, dưới đường ồn ào, uống thuốc ngủ cho dễ ngủ, uống rượu cho say để ngủ. Một đoạn viết thế này:
When I drank less, it was like I hadn’t had any rest at all. I passed by a row of houses on my way in every day. I could smell the cooking going on inside, see the people collapsed on their couches, tired and content after a day’s work. That, to me, was what true happiness looked like. Meanwhile I was already more exhausted than those people, and I hadn’t even reached the warehouse. I cursed myself in those moments: My damned body cursed my willpower, and my damned willpower cursed it back. I swore I would go right to sleep when I clocked off in the morning. But then the morning came around, and everything went the same as the day before. I was trapped in a loop.” (1)
“Khi tôi uống ít hơn, cứ như thể tôi chẳng nghỉ ngơi được chút nào. Tôi đi qua một dãy nhà trên đường đi làm mỗi ngày. Tôi có thể ngửi thấy mùi nấu nướng từ trong nhà, thấy mọi người nằm trên ghế sofa, mệt mỏi và yên tâm sau ngày làm việc. Hình ảnh đó, với tôi, chính là hạnh phúc thực sự. Trong khi ấy, tôi đã kiệt sức hơn những người đó, mà vẫn chưa đến nhà kho. Tôi nguyền rủa bản thân trong những khoảnh khắc như vậy: cơ thể tôi nguyền rủa ý chí tôi, và ý chí tôi sỉ vả ngược lại. Tôi thề tôi sẽ đi ngủ ngay lập tức khi tan ca vào buổi sáng. Nhưng rồi sớm mai đến, và mọi thứ lại y chang ngày hôm trước. Tôi mắc kẹt trong một vòng xoáy.”
“Tôi mắc kẹt trong một vòng xoáy” - là kết luận của Hu Anyan về cuộc sống thời gian đó. Trong suốt tác phẩm, anh thường tìm cách luồn qua những song sắt và thoát khỏi vòng xoáy đó, trong phút suy nghĩ ngắn ngủi, trong giờ giải lao, hay quyết định chọn công việc khác. Sự khác biệt mà tôi tìm thấy trong tác phẩm này chính là khả năng bình tĩnh tìm kiếm sự hiểu biết.
Anh không hi vọng vào những viễn kiến tương lai được vẽ ra bằng ngôn từ hay sự xa hoa trên giấy, hay lời hứa đại ngôn của chủ công ty, chủ tập đoàn hay sự chuyển mình vĩ đại của Trung Quốc. Anh cũng không tuyệt vọng gì với hoàn cảnh của bản thân. Anh tìm kiếm cách để cuộc sống tốt hơn, từ những ngày nhỏ nhặt đến tổng thể dài nhiều năm tháng, tìm thấy sự tự do trong những khoảng chật hẹp ngụp lặn sinh tồn. Hu Anyan là thế hệ lớn lên trong cuộc phát triển nhanh đến nghẹt thở của Trung Quốc, nghẹt thở đến mức những người trẻ sau đó kiệt sức và chọn “Nằm Thẳng”.
Quy mô của thế giới giờ đây lớn hơn khả năng tưởng tượng, khả năng nắm bắt trở nên vô cùng tận đến mức ta ảo tưởng về những gì mình có thể kiểm soát. Nhưng ta lại bé nhỏ như một con ốc bị cuốn vào quỹ đạo khổng lồ nào đó không thể cưỡng lại. Sự bình tĩnh và không kịch tính mà tác giả chọn thật hiếm hoi trong số các tác giả viết về thời đại ta đang sống.
Tự do là cuộc kiếm tìm, nơi ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc thấy bản thân đơn độc trong hành trình đó. Ở nơi đó thường không có nhiều hi vọng để nở hoa, nhưng bớt đi sự kỳ vọng cũng làm ta giảm nỗi tuyệt vọng trong những thời gian khó khăn nhất.
Vì ta thường sẽ vượt qua được.
======= CHÚ THÍCH TRONG BÀI:
(1) Chương 1: My Year of Nightshifts in a Logistics Warehouse (I Deliver Parcels in Bejing - Hu Anyan) - ghi chú: Một số người đọc nói bản tiếng Trung viết tốt hơn rất xa so với bản dịch tiếng Anh. Do giới hạn về khả năng, tôi chỉ có thể đọc bản tiếng Anh.



