Văn chương và chuyến đi bí mật
khi những tàn bạo vương vãi trên trang viết.
Xin lỗi bạn vì một ngày spam bạn tới hai email. Tôi viết bài này sau khi đọc bài “Văn chương không phát triển nhờ sự chê bai tàn nhẫn” của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần, như một đối thoại của nghề viết tôi trải qua.
Vài tháng trước, trên Vnexpress đăng một bài tên ‘Văn chương Việt hôm nay là bờ sông lặng sóng’ của ông Nguyễn Thanh Sơn - tác giả cuốn Phê bình văn học của tôi (2002).
Ông Sơn dựa vào một giải thưởng truyện ngắn của báo Văn Nghệ, cụ thể là dựa vào hai truyện đoạt giải để kết luận như sau: “Văn chương Việt Nam hôm nay lại bước vào giai đoạn tự an ủi: người viết không còn đi tìm cái sự thật, mà đi tìm cách viết sao cho đúng mực. Chúng ta không còn những câu văn biết sợ, biết nhục, những nhân vật biết hối hận, những kết thúc biết khóc và không còn ai biết nghi ngờ.”
Không hiểu sao có tới bốn người gửi cho tôi bài viết đó, và hỏi tôi nghĩ gì về “Văn chương Việt Nam”- tôi đáp là tôi không nghĩ gì cả, vì tôi không đọc hết TOÀN BỘ văn chương Việt Nam năm 2024 và 2025 - vì vậy, mọi thứ tôi “nghĩ” đều là những gán ghép thô lậu và không đầy đủ thông tin.
Cũng tương tự, dựa danh xưng người được giới thiệu là nhà phê bình trên Vnexpress viết bài đó, tôi cũng có thể phản hồi ngay lập tức là bài viết của ông vô giá trị.
Không có nhà nghiên cứu nghiêm túc nào khái quát cả “văn chương Việt Nam” bằng cách dựa vào hai truyện ngắn của một giải thưởng của một tạp chí. Mỗi năm hàng chục nhà xuất bản và công ty sách ở Việt Nam ra hàng trăm đầu sách. Chưa kể đến nhóm nhà thơ, người viết ngắn tự xuất bản. Số đầu sách để khái quát cái gọi là “văn chương Việt Nam” có lẽ nhiều hơn hai truyện ngắn ông đọc.
Người này viết phê bình bằng cách tìm những diễn ngôn đèm đẹp như “bờ sông lặng sóng”, giai đoạn “tự an ủi”, mặc cái áo bóng loáng xinh đẹp của ngôn từ để che đậy sự khinh bỉ và phỉ nhổ vào người viết. Một hành vi nghiên cứu lười biếng (chỉ đọc 2 truyện), không có sự tôn trọng với hàng ngàn người viết khác và không có giá trị học thuật gì cả.
Nhưng bài viết đó nhận được hàng trăm hàng ngàn share, từ những người mà tôi ngạc nhiên vì cả năm trên Facebook họ chỉ toàn khoe hình selfie du lịch và link mua sắm đồ. Không rõ trong cơn đam mê khoe hình cà láng mặt và mua sắm, họ có ẩn ức hay phẫn nộ gì với “văn chương Việt Nam”?
Nhưng tôi hiểu, Vnexpress, như mọi tờ báo mạng khác, cần những diễn ngôn thật khoa trương và những tác giả mạnh mồm nói cho chết để có thật nhiều view. Để ngay cả những người quanh năm share post mua sắm online cũng phải bức xúc chia sẻ nỗi bức bối văn chương này.
Nhưng những diễn ngôn tàn bạo này, trong vòng xoáy tàn khốc của nó, thực sự làm tổn thương nhiều người viết trẻ mới bắt đầu. Họ bắt đầu trang viết với sự bi quan, của tiếng nói cô độc, của cảm giác mình muốn viết nhưng không ai hiểu, không ai nghe, không ai thèm đọc văn học nữa.
Trong cơn lốc xoáy của phê bình bạo lực, nhiều người viết rụt tay lại, từ chối thấy chân dung bản thân là người viết, xấu hổ với ước mơ bé mọn của mình, và lâu dần, rời xa bàn viết như rời xa giấc mơ trẻ con ngớ ngẩn.
Nhưng hôm nay, nhờ nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần, tôi được đọc một bài viết khác: “Văn chương không phát triển nhờ sự chê bai tàn nhẫn”. Ông viết:
“Văn chương, cuối cùng vẫn là sự trải lòng của một con người. Một con người bình thường: có lúc vui, lúc buồn, lúc mệt mỏi, lúc rảnh rỗi, lúc muốn lên tiếng, lúc chỉ muốn im lặng ngắm lá cây. Đơn giản vậy thôi cũng đủ.
Tôi cũng tin rằng nhà văn không cần phải toàn năng nữa. Không ai có thể vừa trồng cây, vừa xây xã hội, vừa chiến đấu với những ung nhọt lớn lao. Văn chương không phải bản báo cáo xã hội. Người viết có quyền yếu đuối, có quyền thiếu sót, khuyết đi một chỗ, có quyền không biết một số thứ. Anh ta chỉ cần trung thực với những gì mình nhìn thấy và cảm nhận và viết. Một người viết có thể đứng cheo leo trên chính hỏng hóc của mình, và chính từ đó anh ta khám phá ra một điều gì đó. Đôi khi, sự không hoàn hảo lại là điều khiến trang viết trở nên thú vị.”
Tôi đã đọc cả bài viết như thấy một làn gió nhẹ êm dịu bên cổ mình, thứ mà tôi không có được sau rất nhiều năm làm người viết.
Nhờ đọc bài của ông Nguyễn Ngọc Thuần, tôi nhớ lại thuở mình học cấp Hai, ngồi rị mọ đêm ngày viết truyện ngắn trên giấy, đạp xe hai cây số ra bưu điện, mua tem gửi truyện đi đến tờ báo Áo Trắng. Thỉnh thoảng tôi có bài đăng, được gửi nhuận bút về nhà qua bưu điện.
Một lần, tôi nhận được thư phản hồi của tờ báo, có ghi số điện thoại, chủ tờ báo nói khi nào tôi lên Sài Gòn đi học đại học thì đến toà soạn, ông sẽ mua cà phê cho. Lá thư đó đặc biệt vô cùng, nó như khẳng định rằng ồ vậy là có người đọc thứ mình viết ra, họ còn có ấn tượng tốt với mình nữa, mình càng phải cố gắng hơn chứ.
Sau đó tôi lên Sài Gòn đi học, đến toà soạn, và ông Nguyễn Liên Châu (hoá ra là người viết thư hẹn) đã mua cà phê cho tôi ở cái quán cóc gần đó, và dặn tôi hãy chăm chỉ viết.
Tại sao ông phải hẹn gặp một đứa nhóc xa lạ? Tại sao ông phải mua cà phê cho nó? Tại sao phải dặn dò nó chăm chỉ?
Tôi thấy trong đôi mắt ông niềm hi vọng trong sáng. Tôi không biết hi vọng đó là gì, có thể là có một đứa nhóc chịu viết, hay có thêm nhiều trang viết, hay có thêm... cộng tác viên cho toà soạn? - Tới giờ vẫn chịu. Không biết. Nhưng vì ông dặn vậy, nên tôi vẫn đều đặn viết.
Viết đã trở thành nghề nghiệp, tạm gọi là thứ giúp tôi kiếm tiền và sống lương thiện.
Nhưng nó còn có “tác dụng phụ”, mà sau này trở thành tác dụng chính, là khiến tôi giữ lại những rung cảm bé nhỏ của chính mình, trong đời sống tôi càng nhiều tuổi, càng dễ dàng quên sạch những quá khứ lấp lánh và cả kịch tính.
Tôi quên mất những bi kịch mình trải qua. Tôi vờ gạt phứt đi những chuyện khó chịu, giận dữ. Tôi sống và bơi về phía mọi cơn sóng với sự không chần chừ. Nhưng khi viết, tôi trở về và lặn ngụp đối thoại với bản thân, khó khăn vô cùng, đôi khi hạnh phúc vô cùng. Tôi được làm người chân thật với bản thân trong bí mật.
Vì vậy khi Nguyễn Ngọc Thuần viết: “Một người viết có thể đứng cheo leo trên chính hỏng hóc của mình, và chính từ đó anh ta khám phá ra một điều gì đó. Đôi khi, sự không hoàn hảo lại là điều khiến trang viết trở nên thú vị.” - tôi nhìn thấy chính mình ở đó, nhìn thấy sự cảm thông và đôi mắt trong sáng hệt như mấy chục năm trước của ông Nguyễn Liên Châu, “chăm chỉ lên”.
Tôi khởi đầu nghề viết bằng nghề báo, rồi cố gắng vứt bỏ cái áo nhà báo để thành người viết văn. Làm một đứa trẻ rị mọ từ đầu khi đã 32 tuổi thật là một nỗ lực ngớ ngẩn và khốc liệt. Nhưng tôi thật sự cố gắng phân định thật rõ hai vai này mỗi khi ngồi vào bàn viết. Là nhà báo, tôi cần có chứng cớ cho mỗi thứ mình viết. Là nhà văn, tôi học cách nhìn thế giới bé nhỏ của chính mình tự sinh tự diệt trong khối cầu bé nhỏ của riêng nó.
Viết văn thật cô đơn.
Tôi có một người bạn quen qua mạng. Bạn bảo bạn muốn viết truyện ngắn, nhờ tôi đọc giúp. Bạn không biết xuất bản ở đâu cả. Bạn gửi chỗ nào họ cũng đòi cắt cho ngắn, rồi từ chối. Tôi nghe thấy tiếng bạn cô độc, như tôi năm xưa ngồi trên gác xép rị mọ viết một truyện gửi Áo Trắng. Tôi bảo bạn gửi tôi đọc đi.
Hôm đó, đọc xong truyện ngắn của bạn tôi đã khóc. Tôi có trả lời trong email tôi đã khóc. Không biết vì sao lại viết như vậy, mà không thể kìm chế được cảm xúc.
Bạn làm tôi nhớ có năm tôi đi bộ trong rừng đêm ở Upstate New York. Tối đen như mực. Tự dưng trên cao có tiếng “Coooo coooo” nghe ma mị hoảng sợ vô cùng. Ngay sau đó là hàng chục tiếng coooo coooo ở bốn hướng đáp lại. Tự dưng lúc đó tôi mắc cười quá chừng, à là tiếng cú đêm kêu, tụi nó kêu xong đáp lại nhau. Đứng đó một lúc thì nghe ầm ĩ cả lên, y như tụi nó đang trò chuyện từ cây này sang cây kia vậy.
Lúc đọc truyện ngắn của bạn, tôi cảm thấy bản thân như con cú đó, tự dưng kêu lên một mình cô độc, nhưng kêu lên rồi mới phát hiện... có quá trời đứa như mình đáp lại. Tôi viết thư đáp lại có lẽ vì tôi có nhu cầu cho bạn biết là tôi đọc rồi, tôi thấy cảm xúc trong mình run rẩy, tập tễnh, vấp váp khi đọc hệt như nhân vật bạn viết. Bạn hiểu không? Bạn nghe thấy tôi không?
Có lẽ tôi cần bạn cũng hệt như bạn cần tôi. Có lẽ người viết cô đơn và tội nghiệp như thế. Có lẽ chúng ta là những con cú trong rừng, rúc lên vài tiếng, sợ sệt đập cánh bay đi mất khi có tiếng chân người. Có lẽ chúng ta cần rất nhiều can đảm để không bị doạ sợ tới chết, vứt bỏ hết trang viết và trốn tiệt vào rừng sâu.
**
Có thời gian tôi đi học hai năm ở Mỹ, về ngành viết văn. Lúc đó, có một đàn anh trong nghề ở Anh bảo: “Đi học làm cái gì, học rồi cũng viết có ra gì đâu?” - Anh chủ ý coi thường văn chương Mỹ là thô lậu, thị trường, chỉ tập trung vào chủ nghĩa cá nhân và thị trường tự do. Vài năm tôi đi học, cả thế giới viết văn vừa chê vừa chửi những chương trình MFA viết văn.
Tôi đã đi từ sự ác ý ở Việt Nam tới sự ác ý ở Mỹ.
Nhưng tôi lại phát hiện ra một thứ khác: tôi có một đám bạn thích đọc thơ, và hai giáo sư rất yêu công việc họ làm. Với đám bạn thích đọc thơ, tụi nó sẽ tổ chức ăn xế ở nhà đứa nào đó trong San Jose, xong bảo mọi người mang đồ ăn tới ăn chung, và đọc tác phẩm đang viết hoặc đã viết.
Lần đầu tiên gặp nhau, có một thằng đọc một bài viết về quầy bar của ông nội nó. Đó có lẽ là bài personal essay hài hước, đầy cảm xúc và nhiều kỷ niệm đẹp nhất tôi từng nghe. Tụi tôi đã cười rú lên, xong ngồi im re mỗi khi đi qua một giai đoạn của đời ông nội và đứa tác giả.
Hôm đó tôi đã hiểu thêm một sức mạnh khác của trang viết: khi ta đọc nó thành lời, nó tự tạo hình thành đời sống mới, đời sống của âm thanh, đời sống trộn vào vùng tồn tại thực của những đứa thanh niên chưa bao giờ gặp ông (vì ông đã qua đời). Trang viết đã cho kỷ niệm sức sống mới. Trang viết khiến người nghe chậm rãi sống lại trải nghiệm mà họ chưa từng trải qua, không phải của ông nội họ, mà của tất cả những đứa trẻ từng được ở bên người thân lớn tuổi chúng yêu mến. Trang viết trong một bữa chiều nắng, cho tôi sống thêm một phần khác mình có thể đã đánh rơi rất xa trong quá khứ của mình.
Hoá ra khi viết chúng tôi không cô đơn lắm. Thời gian học ở Mỹ, tôi đã có rất nhiều buổi đọc đầy kỷ niệm như vậy.
Viết văn thật nhiều thất vọng.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần viết: “để sự ồn ào lôi kéo ta đi là việc không nên chút nào. Tôi vẫn luôn tự nhắc nhở mình, đừng để lời khen chê làm lệch lộ trình, để rồi mang trên mình trọng trách nặng trĩu đó, hoặc viết tiếp theo lời khen đó. Để rồi không dám làm khác nữa.”
Khi tập thơ đầu tiên của tôi được chọn xuất bản tại Mỹ, tôi tìm kiếm một không gian đọc với người đọc ở Việt Nam. Trong suốt quá trình tìm chỗ đọc đó, tôi bắt đầu bị tấn công bởi một nhân vật nổi tiếng trên mạng. Không rõ vì lẽ gì, anh ta và hàng trăm fan ngày đêm lên tất cả các trang của tôi để chửi bới, sỉ vả, chế giễu việc tôi muốn đọc thơ với người đọc.
Anh ta còn doạ ra Hà Nội đọc thơ sẽ đem đĩa dồi chó đến thưởng thức. Có lẽ đó là lần đầu tiên tôi đối mặt với bạo lực của ngôn từ, đến từ một vùng thinh không không có gì cả, từ một người mình hoàn toàn không quen, không đối thoại ngoài đời bao giờ, cũng như chưa bao giờ tranh cãi với họ trên mạng.
Tất nhiên, hàng trăm fan của anh ta cũng vậy, họ chưa có ai biết tôi và tất nhiên chưa đọc sách tôi viết. Tôi đã sáng tác thơ bao giờ đâu.
Hôm đó, vô tình tôi đang ăn tối ở nhà người bạn ở Mỹ, bạn tôi dùng Google dịch đúng cái comment “dồi chó” đó sang tiếng Việt xong quay qua hỏi tôi: P, mày có ăn thịt chó hả? - Mắc cười quá, tôi bảo người ghét người viết họ vậy đó. Bạn tôi vẫn không hiểu, tại sao đọc thơ mà cũng có người ghét, lại còn có cả thịt chó.
Buổi đọc thơ diễn ra nhẹ nhàng, có độc giả tới dự, không có đĩa dồi chó nào, nhưng tôi nghĩ rằng nhân vật nổi tiếng kia đã thắng.
Hắn làm tôi mất hẳn niềm vui đến đọc và trò chuyện với người đọc. Hắn khiến tôi rơi vào cái hố cô độc tự tôi đào ra nhờ đống dồi chó hắn ném vào tôi. Tôi viết thơ và từ chối đưa chúng đến người đọc.
Tôi đã quên buổi chiều nắng đẹp ở San Jose, nơi bạn viết của tôi đọc về quán bar của ông nội, nơi tôi học cách tin tưởng trang viết, khi thể hiện bằng lời, là một giác độ mới của đời sống được tạo sinh. Tôi đã để sự sáng tạo yếu ớt của mình bị dẫm đạp (và không biết cách bảo vệ nó).
Tôi vẫn chưa biết cách bảo vệ trang viết của mình.
Khi tập truyện ngắn đầu tiên của tôi ra mắt, đây là một trong những review tôi nhận được:
Bạn có thể đọc toàn bộ review ở đây và hiểu toàn bộ những gì họ muốn nói.
Tôi đã mất bốn tháng trốn biệt trong sự tổn thương của chính mình, cũng y hệt như cái comment dồi chó dạo nọ. Khi là nhà báo, tôi thật dễ dàng, thô bạo, tại sao khi trở thành người viết tôi lại hèn yếu đến thế nhỉ?
Người viết comment trên đã dùng những từ “đạo đức giả. Performative writer. Pathetic.” để nói về tôi - dựa trên một sự kiện thời sự xảy ra lúc đó.
Một vài người viết lớn tuổi hơn đã an ủi tôi. Tôi cũng muốn phân bua đủ thứ để cho thấy sự vô tội của mình. Viết văn mà. Tôi viết một mình trên chiếc xe camper của chồng tôi, ngoài những ngọn núi không có internet, ngoài những bãi biển mà muối biển đã ăn hỏng máy tính tôi vài lần.
Khi tôi viết tập truyện ngắn đó, gần ba năm kéo dài cố gắng vượt qua giới hạn của một nhà báo, ba năm học tập để trở thành nhà văn. Người biên tập của tôi đã kiên trì thúc bách, đã rất tế nhị khi chê một truyện chưa tới, đã rất kiên trì khi bảo em viết lại đi. Người đó đọc đi đọc lại, sửa, gợi ý, bỏ, gợi ý. Người đó chỉ được nhận lương biên tập khi dành cho tôi tất cả sự bình tĩnh và kiên nhẫn đó. Tôi đi khoe với bạn viết của tôi ở Mỹ rằng: tôi có một biên tập rất xịn, họ rất bỏ công gợi ý và dẫn đường cho tác giả còn yếu như tôi.
Bạn viết của tôi ở Mỹ rất kinh ngạc: chỉ có agent (người nhận được % tiền khi bán bản thảo thành công) mới kiên trì như vậy với tác giả. Còn lại tới biên tập của công ty sách cũng không quá chú tâm.
Viết một tập truyện mất ba năm, trong đó có hai năm sửa đi sửa lại tùm lum chỗ. Sau đó ra mắt sách bị cả làng chửi tới chân tóc. Chửi nặng nhất là chửi thứ người viết đạo đức giả. Người viết thường chẳng có gì ngoài cố gắng đi tìm câu trả lời về những định nghĩa và xung đột của chính nó - trong đó có đạo đức. Cứ chửi nó đạo đức giả là được, trần truồng tục tĩu hết.
Như Nguyễn Ngọc Thuần viết là: “mổ xẻ một người viết mới như muốn bẻ gãy một mầm cây chưa kịp mọc” - Đúng vậy, tôi đã ở đó, bị bẻ gãy.
Hôm tôi đọc sách ở Sài Gòn, có nhiều bạn đọc đã tới và trò chuyện suốt ba tiếng về quyển sách. Tôi đọc. Họ đối thoại. Tôi đứng dậy sau buổi trò chuyện, kinh ngạc về nhiều người mình chưa bao giờ gặp, đã bỏ công một buổi sáng tới ngồi tới tận trưa, và họ đã đọc hết cả quyển để đi hỏi mình từng chi tiết.
Tôi trở về nhà. Bị bẻ gãy. Chồng tôi bảo: “Ờ đi lướt sóng đi. Rồi khi nào khoẻ thì viết lại.” - Anh thường không bình phẩm gì về những sự khốn khổ nội tâm tôi gặp phải. Anh không phải người viết. Anh có cách khác để giãi bày thế giới của anh.
Nhưng vài tháng sau đó trôi qua, có một cô bé bạn đọc cho tôi một mớ hạt cây và nhắn tin rằng: “Khi chị đem đống hạt này ra trồng, chị hãy nhớ đếm những người đã chăm sóc và ủng hộ chị để chị vượt qua sự đau khổ này.” - Tôi đã trồng hết bịch rau mầm cô bé đưa, trộn lẫn với bịch rau mầm bạn thân tôi cho, ăn phải cả tháng mới hết.
Không lẽ giờ tôi bảo với cô bé là chị ăn hết rồi nhưng chưa kịp đếm.
Vậy là, tôi đã thật vô ơn với bạn đọc, những người đã bỏ công đến buổi đọc sách hôm đó, những người mua sách và gửi tin nhắn bảo thấy ưa truyện này, truyện kia viết chưa tốt.
Vậy là tôi đã quên những người đàn anh, đàn chị, những cô chú tác giả, độc giả đã bỏ công đọc sách, rồi gồng mình giới thiệu sách cho tôi và... bị dân mạng chửi ké.
Vậy là, tôi đã thật vô tâm với những đứa bạn cùng nhà, mỗi sáng dắt tôi đi bộ, giải thích cho tôi rằng tôi đã viết xong, đã cố gắng làm thật tốt, giờ đi ăn bún bò đi.
Vậy là, tôi đã không nhớ ra những người đọc ở xa, hỏi ê bạn thích gì, tôi gửi tới ngày ra mắt sách.
Vậy là, trong khi bị “bẻ gãy”, trong khi bị liệng dồi chó vào miệng, liệng “đạo đức giả” vô đầu, tôi đã quên mang ơn những người đã cho tôi sự động viên lúc tôi yếu hèn nhất.
Một mình
Trước khi bắt đầu chuyến leo núi mùa thu, một bạn mời tôi đến buổi đọc thơ ở Sài Gòn. Đêm hôm đó, tôi đã được nghe rất nhiều tác giả đang viết, viết và đọc, viết và trình diễn, viết và dũng cảm thể hiện tác phẩm giữa một khối không gian toàn những ánh nhìn xa lạ dò xét, nghi ngại.
Họ đứng dậy, đọc tác phẩm, và chìm vào cánh gà, chìm vào hàng ghế khán giả.
Trong một khoảnh khắc mong manh, lại như con cú giữa cánh rừng đêm, tôi nghe tiếng gọi của những người viết khác, họ không nhìn thấy mình, họ viết, mình cũng không nhìn thấy họ, mình viết.
Tôi muốn quay lại đoạn viết này của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần: “Người viết cũng không nên để cơn giận dắt tay mình. Trong lúc giận, ta chỉ viết được những điều nóng nảy, xàm xí. Nỗi buồn nên được viết khi ta bình thản; sự đau đớn nên được viết khi ta đã hồi phục.”
Cảm ơn nhà văn, cảm ơn những người đọc, cảm ơn bạn bè, cảm ơn những trang viết đã giúp tôi lớn lên, chật vật, khốn khổ, tội nghiệp và bị tổn thương. Giờ đây chắc tôi nên đợi mỗi lần mình ra sách mới, sẽ lại có thêm những miếng dồi chó, đạo đức giả, hiếp dâm tiếp tục được ném vào mặt mình.
Tôi vẫn là kẻ yếu hèn và sẽ bị tổn thương. Là kẻ hiếu thắng, tôi muốn chúc mừng kẻ đã chửi bới tôi đủ mạnh mẽ và đã thắng trong tất cả các cuộc chiến chúng muốn.
Nhưng cũng như hơn 20 năm trước, tôi đã nhìn thấy thứ gì đó trong mắt ông Nguyễn Liên Châu khi ông dặn tôi viết chăm chỉ lên. Tôi nhìn thấy thứ gì đó trên đôi môi những người viết thơ và đọc thơ vào đêm tối ở Thơ Thở. Tôi nhìn thấy thứ gì đó trong truyện ngắn của người bạn ở Vũng Tàu viết gửi: Thứ ánh sáng màu trắng rất bé, đập cánh, như con ngài yếu ớt và tội nghiệp.
Dễ thôi, chỉ cần vung sách lên, bạn sẽ đập chết nó, bẹp dí trên tường, để lại một bãi bầy nhầy. Bị bẻ gãy.
Dễ thôi, tôi vẫn viết. Một mình. Vật lộn. Một mình. Giữa những bầy cú đang gọi nhau khác.
Bạn có thể đăng ký nhận bài viết mới qua email miễn phí hoặc qua kênh Telegram tôi sử dụng để thông báo có bài viết mới.




Có một lần tôi nói chuyện với một GS Y khoa tốt nghiệp tại Pháp là bạn của GS Trần Văn Khê, là thầy của các bác sĩ, tại đh Y SG, về những lời phê bình của giới chính trị sau 1975; vị này nói: thằn lằn còn ị trên đầu tượng Phật con à. để tâm làm gì. Từ đó đường tôi tôi cứ đi. Không một thành công nào mà không phải vượt qua chông gai
Đọc cả 2 bài mới nhất của em, anh thấy cả một dead poets society đang tái hiện trở lại, ở một quy mô lớn và tàn bạo hơn, và dường như không cách nào ngăn được. Nhưng vẫn có những người như em đứng vững, cảm ơn em rất nhiều.