Và con sông choàng quanh đời sống
Khi những trang sách tự đối thoại với nhau trong dòng chảy đầy xung đột.
Bạn đọc thân mến,
Tôi vừa tắt tính năng paid subscription trên substack của mình. Nếu bạn nào đã trả phí đọc cho tôi trong năm nay, vì năm chưa hết, bạn sẽ được Stripe trả lại phần tiền bạn đã gửi tôi cho năm đọc này qua thẻ mà bạn đã dùng. Lý do là vì Stripe và Substack tăng % họ tính trừ vào chi phí này và tôi vẫn luôn để bài trên substack mở cho người đọc. Vì vậy để không làm phiền bạn với phần tiền bạn bị tính vào thẻ hàng năm, tôi quyết định tắt tính năng này. Cảm ơn bạn đã bỏ công và tiền bạc ủng hộ tôi mấy năm qua.
Hai tuần này, tôi đọc được một vài quyển sách khiến nhiều cảm xúc trong tôi dường như xô động, như một sự đứt gãy nho nhỏ, không đem lại đau đớn, mà cảm xúc nứt ra, tẽ vỏ như những hạt mầm nhỏ tìm cách rướn khỏi vỏ cứng và đất phủ.
Khi một số bạn hỏi tôi làm giàu vốn từ tiếng Việt bằng cách nào, trong nhiều năm, tôi luôn trả lời là hãy tìm các tác giả viết bằng tiếng Việt (không phải văn học dịch), và đọc họ. Từ vựng, cách thể hiện câu văn, phương ngữ, hơi thở của vùng miền thể hiện ở trang viết nguyên bản, nhất là với những người viết có sự gắn bó sâu sắc với nơi họ sống.
Tôi gặp lại câu trả lời này với chính mình khi đọc “Bửu Sơn Kỳ Hương” của Lý Lan và “Con Nước Tha Hương” của Trương Chí Hùng. Tôi đọc cả hai quyển này gần như song song, hoàn thành cả hai vào cuối một tuần, tìm được cảm giác những quyển sách tự đối thoại với nhau qua câu văn, qua sự chuyển động của ý tưởng như hai sinh thể sống.
“Bửu Sơn Kỳ Hương” của Lý Lan ra mắt lặng lẽ năm 2022, không ai chú ý nhiều dù tác phẩm đạt một giải thưởng văn học. Ngay cả tác giả dường như cũng ít nói về sách trên báo chí hay trên Facebook của bà. Tôi tìm đọc qua những lời xầm xì “phải đọc đi”, “hay lắm”, “đọc đi em”, từ một cô giáo và vài bạn viết.
Tôi cũng sẽ không thể review gì cho bạn trong bài viết này, vì tôi cảm thấy bất lực khi chạm vào từng trang viết mà mỗi trang mình đều cảm thấy yêu mến và dịu dàng. Tác phẩm viết như một câu chuyện cổ tích màu nhiệm kéo dài, những điều kỳ lạ toả ra, lấp lánh bé mọn xảy ra trong những khoảng sáng tối của thời gian và hành xử con người.
“Bửu Sơn Kỳ Hương” là tên một tôn giáo nội sinh từ vùng núi Sam (Châu Đốc, An Giang) lan toả ra nhiều tỉnh thành ở miền Tây Nam Bộ. Đức thầy Đoàn Minh Huyên khởi đầu là người đi chữa bệnh cho những người bị mất mùa, bệnh tật lôi kéo, chết chóc kéo dài. Bạn có thể đọc nhiều hơn để biết về sự tồn tại và chăm sóc đời sống tinh thần của những tôn giáo nội sinh với cư dân bản địa ở đây.
Nhưng quyển “Bửu Sơn Kỳ Hương” không khởi đầu bằng tiền đề của lịch sử, mà khởi đầu với một câu chuyện kỳ ảo: một người đàn ông hàng năm lên núi mang theo giấy, bút, đồ cúng trả ơn thần hổ, mong tìm được vật báu mang về bán. Năm đó thần hổ không xuất hiện như lệ thường, mà chỉ có một người nhìn vừa hoang dã, vừa im lặng, vừa lặng lẽ, cứ vậy đi theo ông về đến phố.
Từ đó, câu chuyện tẽ thành nhiều dòng chảy, mà người kia, đôi khi may mắn được cho chén cơm, ngồi trong phòng đọc hết sách thuốc của một nhà danh y, rồi bước ra con lộ, đi theo bất cứ nhánh sông và con đò nào cho mình đi. Người ấy đi cùng một anh hầu (mà chủ nhà thuốc vì quý mến ông nên cho theo săn sóc một người ngơ ngác), một cô gái ngơ ngẩn. Họ gặp toán cướp, họ gặp những người bệnh vật vã cần chữa, họ gặp một ông nhà giàu chỉ muốn được yên tĩnh không xô bồ. Dù họ gặp ai, người kia trong sự lặng lẽ như mặt nước và sự linh hoạt của tri thức, đã giúp những người cần giúp, rồi lại đi tiếp khi cuộc đời xô đẩy, mà như người ấy nói: “Không biết nhau mà như biết nhau. Không ơn nhau mà như ơn nhau. Có duyên gặp lại thì gặp, không gặp lại cũng không sao.” .
….hay như đoạn viết ngắn về sự hiện hữu hiếm hoi của chân dung Phật Thầy trong sách:
“Ôn dịch đã qua. Các thứ bệnh khác Phật Thầy chữa được thì khuyên người khỏi bệnh về nhà ăn lành ở hiền. Người bệnh không khỏi thì Phật Thầy cũng bảo ở hiền ăn lành, thân mình cũng như cây trái kiến giun, có sinh có hoại, ngay cả như thân Phật Thầy cũng vậy. Một bữa Phật Thầy đi lâu không về, Bình và những người đã theo Phật Thầy từ Vĩnh Long Cái Bè túa đi tìm. Họ gặp Phật Thầy ngồi im trong thung lũng hoang vu giữa Bảy Núi. Đệ tử bèn ngồi lại chung quanh. Hồi lâu sau đó họ phải đứng lên trồng trọt để có ăn, dựng nhà để tránh mưa bão, sống với nhau theo lời Phật Thầy dạy ăn lành ở hiền. Trong số họ có trai có gái, nên dần dà có trẻ con. Mấy mươi nóc nhà xây trên lưng núi xanh um tạo thành một cái làng khiêm tốn, đừng mòn quanh co từ nhà này đến nhà kia, lẩn trong vườn dâu, nương khoai, ẩn hiện giữa cây rừng đá núi.”
Trong dòng chảy người đó đi ngang những người khác, một gia đình thương lái người Hoa giàu có, có con đi Singapore về, nhưng quyết ở lại quê hương vì: “điều chàng đã hứa với cha khi khóc cạn lệ ở gò mả nguỵ là sẽ ghi nhớ và làm theo những điều cha dạy, sống theo gương cha, làm một trụ cột gia đình, coi trách nhiệm làm con, làm chồng, làm cha là trách nhiệm lớn nhứt, không thể thoái thác hay ký thác cho ai cả. Chàng tin vào luân lý đạo đức này, và đã cảm động biết bao khi thấy bà nội, mẹ và vợ con mừng vui như thể nào khi trở về sum họp dưới mái nhà Phước Xuân Đường còn nguyên vẹn.”
Có người thanh niên mồ côi được ông cố đạo Tây cho học đạo (Thiên Chúa Giáo), học viết chữ quốc ngữ, khổ sở mang nỗi nhung nhớ xa mẹ đi từ quê ra xứ lạ tận Malaysia, rồi từ Malaysia phải quành về vì thương mẹ, vì khổ sở nhớ con sông quê nhà, vì muốn được ở bên những người già cả đã cưu mang mình bằng con cá, vạt rau hái trên cù lao: “Trên dòng sông này Long đã được đưa đi xa khi còn là một thiếu niên, đầu mở rộng và lòng trống rỗng. Thiếu niên ấy không bận tâm lắm mình là ai. Nói cho cùng nó trơ trụi một mình sau khi ông bà Tư mất, không biết cha mẹ lưu lạc nơi nào, và ngay lúc đó không biết mình đang đi đâu. Đến khi đưa mẹ đi tìm cha trên dòng sông này, Long mới cảm nhận rõ dần tình yêu, như dòng nước chảy, có nguồn cội và không gì ngăn trở được. Tình yêu đã sinh ra hi vọng. Anh trở lại dòng sông này với niềm hi vọng nơi đứa bé được bà nội ôm trong tay dùng cả một tấm lưng cong vòng che chắn bên trên. Anh biết mình là người có cha mẹ vợ con. Anh không còn là một kẻ bơ vơ mặc cho người khác sắp đặt cuộc đời mình. Anh có một mái nhà trong một ngôi làng tươi tốt nơi người ta ăn ở hiền lành với nhau. Anh không cần sắm vai trò gì trên sân khấu của những kẻ tự nhận văn minh.”
…
Một số đoạn cuối sách viết về những thất bại cuối cùng của những người khởi nghĩa chọn bảo vệ làng quê của mình khỏi tay người Pháp khi tàu đánh vào các ngả miền Tây, là những đoạn viết chân phương và xúc động đến mức khi đọc tôi thấy mình đã khóc:
Ông Thành [Quản cơ Trần Văn Thành'] nói: …… “Chết một cái, là xong. Sống mới khó. Giữ được mạng sống của những đứa trẻ kia là chuyện khó. Nuôi dạy chúng lớn lên biết tổ tông nguồn cội, biết ăn ở hiền lành với nhau, là chuyện khó. Anh Long, anh là người hiểu biết nhứt ở đây, anh chọn chuyện dễ hay chuyện khó? Một trăm năm nữa, nơi này có thể vẫn là đồng lúa, có thể là phố chợ, thân xác của chúng ta đều trở thành cát bụi. Chúng ta có chọn cái chết cho mình hay không thì cuối cùng cũng sẽ chết. Người nào dám vì đàn trẻ kia mà chọn cái sống mới là anh hùng. Anh Long, anh hãy lùi lại, hãy thay tôi dẫn đàn bà trẻ con đến chỗ an toàn.”
….
“Ta là đệ tử Phật Thầy, theo Phật Thầy khai hoang lập làng để mọi người cùng sống hiếu thuận hiền hoà với nhau. Chẳng may đời nhiều quỷ ma gây nhiều điều tàn ác, ta không muốn giết người nhưng ta không thể để cho ma quỷ giết con cháu chúng ta. Thân ta đến lúc hoại thì hoại, thần ta đến lúc thăng thì thăng. Anh em, hãy hướng về Bảy Núi lạy Phật Thầy. Phật Thầy phù hộ chúng ta sống chết với một tấm lòng sáng trong.”
….
Tập truyện kể về của những con sông vô tận chảy ở đồng bằng Sông Cửu Long, nơi số phận người không hoàn toàn do họ chọn, mà được quyết định dựa trên những ước vọng của họ thuận theo dòng chảy sẽ đưa họ đi. Như hai nhân vật yêu nhau trong sách, họ phải đi qua nhiều chục năm suốt những con đò, quãng chợ, ngã ba sông để tìm nhau. Họ không phải hình thể tĩnh của một con người cố định hay một ngôi làng cố định, mà chính họ thay đổi theo sông, như cuộc đời kéo họ đi theo dòng nước, và đợi họ ở một quãng nước lặng là một sinh phận và thế giới khác.
Tôi đọc quyển sách như đưa tay xuống một đoạn nước sông, đợi nước chảy xem mình nghe thấy gì, cảm thấy gì, và cảm thấy sự rúng động đâu đó trong mình xảy ra, khi chứng kiến số phận của những con người (trong tiểu thuyết) hoàn toàn không liên quan đến đời mình - hay phải chăng họ thật sự có ở ngoài con nước xa kia? -
Câu hỏi trên kéo dài vì nhiều ký ức của tôi với đồng bằng quay trở lại sau nhiều năm tôi rời Việt Nam. Đồng Bằng là tuổi 20 của tôi, hiển hiện như một ân phước an ủi tôi nhiều trong những năm tháng cố gắng hiểu mình muốn sống thế nào trong đời này.
“Bửu Sơn Kỳ Hương” đến và tôi đọc cùng lúc với “Con Nước Tha Hương” của Trương Chí Hùng. Khi Bửu Sơn Kỳ Hương cho tôi một thiên truyện vừa kỳ ảo vừa dịu dàng về quá khứ của sông, thì Trương Chí Hùng bày ra trước mặt những mảnh vụn của đời sống ghép thành chân dung của sông ở hiện tại mà anh chứng kiến, đi lại, và cố gắng hiểu nhưng nhiều khi không tìm thấy câu trả lời nào có lý.
Như khi tác giả làm tình nguyện viên đón người dân đổ về quê tránh dịch Covid-19, anh viết về một người bạn lúc nhỏ gặp trong chuyến đi khổ sở đó:
“Anh Hùng Em châm thêm điếu thuốc, hút một hơi rồi thả khói vào mông lung. Bàn tay anh phồng rộp vì chạy xe quãng đường dài, có mấy chỗ vết phồng bể ra, chảy máu và nước vàng. Tôi lấy thuốc cho anh thoa vào và dùng băng keo cá nhân dán lại. Anh bảo, mấy cái lặt vặt này có gì đâu mà phải bận tây, hồi xưa đi đồng, nước ăn lở tay lở chân hết vẫn chịu được mà. Hoá ra, hồi ức về mùa nước nổi vẫn luôn âm ỉ trong anh như tàn lửa rơm con cúi, chỉ cần một lọn gió cũng bùng cháy lên.”
…
…”anh Hùng Em từng chỉ tôi cách dùng trái tu hú bôi vào chỗ nước ăn. Tu hú là loại cây có gai như cây bông giấy nhưng lá dài, hoa màu vàng có bốn cánh, cuống dài. Trái tu hú non màu xanh, khi chín chuyển sang màu vàng, kích thước cỡ trái hạnh, không ăn được vì có vị rất đắng, nhưng lại trị chứng nước ăn rất hiệu quả.”
…
… “Giờ đi giáp miền Tây, kiếm đỏ con mắt không biết có gặp cây tu hú nào không. Mà chuyện chân tay bị nước ăn cũng xưa cũ lắm rồi. Hỏi mấy đứa con của anh Hùng Em có biết nước ăn là gì không, chúng ngơ ngác hỏi lại, nước không có răng làm sao mà ăn được. Câu nói ngây thơ của bọn trẻ vừa vui lại vừa buồn như tiếng thở dài.”
Hoặc như khi tác giả đến Nam Du gặp lại người bạn, cùng đợi đó bão về, nhiều thuyền đánh cá trong đất liền gặp bão phải vào đảo tránh. Tác giả viết:
“Họ đều là những ngư dân nghèo từ khắp nơi, nào là Cà Mau, U Minh, Hòn Đất, Tắc Cậu, có người tận Bà Rịa - Vũng Tàu. Dù quê quán ở đâu, thuyền bè ngư cũ cũng là cả gia tài của họ, bị đánh chìm kiểu này là gần như mất trắng. Họ ngồi chết lặng trên bờ cát, mắt nhìn đăm đăm vào con sóng, nơi bao kỳ vọng bị chôn vùi.”
“Đêm ấy, anh Lưu và dân đảo Nam Du đã ở lại với những ngư dân không may. Họ mang nồi niêu, gạo muối đến nấu ăn cho những ngư dân gặp nạn. Họ còn cất lều, đem quần áo mùng mền tới cho. Dân đảo thừa biết những ngư dân này nếu muốn trở về đất liền thì cũng mất cả tuần lễ sửa chữa tàu thuyền.”
…
“Hôm ấy, tiễn nhóm ngư dân cuối cùng quê tận Cà Mau, anh Lưu và bà con ra Bãi Mến khá đông. Những người ngư dân nơi Đất Mũi xúc động đến rơi nước mắt, nói lời cảm ơn nghĩa tình của xóm đảo. Tôi với anh Lưu khiêng mấy bao gạo để lên tàu của họ. Đó là số gạo bà con trên đảo quyên góp hỗ trợ. Còn một ít tiền cho mỗi tàu, anh Lưu để trong bọc ni lông, trao tận tay cho họ. Nhiều người xua tay có ý không muốn nhận lấy, nhưng rồi anh Lưu thuyết phục họ cầm, bởi đó là tấm lòng tương trợ của bà con.”
“Con Nước Tha Hương” của Trương Chí Hùng đi song song với “Bửu Sơn Kỳ Hương” của Lý Lan kéo dài các chiều không gian của câu chuyện, như một tương tác chồng thành nhiều lớp của thời đại và cách con người sống còn và chọn lựa. Tôi nhận ra những nhân vật người đàn bà phải lấy chồng xa nhà, đứa con lang bạt học hành ở nơi xứ lạ, người chủ giàu có muốn ở lại quê nhà giữa hoạn nạn của người xứ mình… trong những hoá thân khác mà đời sống hiện tại của sông choàng vào họ, như anh Hùng Em, anh Lưu, người dì ở Rọc Lá, ông già ở Thứ Mười [Miệt Thứ] am hiểu văn Sơn Nam, cô bé bán khóm Tắc Cậu ở gần Cầu Cái Lớn, những người cắt cỏ ngập nước đem bán ở Ô Lâm…
Văn của Trương Chí Hùng đọc nhẹ nhàng như buổi trò chuyện tôi có với anh vài tháng trước, khi anh bảo “ừa cái đứa hồi đó học trong lớp tui dạy, nó đâu có học hành gì thêm, xong tự xưng là kỹ sư nông nghiệp, xong đi bảo bà con mua thật nhiều thuốc trừ sâu xài cho ruộng” xong anh cười, một chút cười mà chỉ có người làm thầy giáo như anh mới hiểu, khi đôi mắt đi qua và quan sát tri thức hay cách con người thay đổi số phận của chính mình và những người khác, khi những thay đổi của vùng đất chắc chắn là không thể tránh né hay chối từ, thì thay đổi cách nào là một câu hỏi dày vò những người sống ở nơi đó.
Còn Lý Lan, theo cách nào đó, cô cho người đọc những trả lời mơ hồ, không ấn định và ép uổng, như cái học mà cô viết trong truyện: “Giữ được mạng sống của những đứa trẻ kia là chuyện khó. Nuôi dạy chúng lớn lên biết tổ tông nguồn cội, biết ăn ở hiền lành với nhau, là chuyện khó.” - theo cách nào đó, làm tôi nhớ rõ hơn từng bài ký trong tập “Con Nước Tha Hương” - vì tác giả cũng là một thầy giáo, cũng chứng kiến những thanh niên trẻ lớn lên ở Đại Học An Giang của mình, và nhìn thấy bao nhiêu nghìn những người trẻ khác “đi Bình Dương" mỗi năm, chọn lựa quả quyết và tạm bợ cho cho đời sống mà họ không còn chọn lựa nào khác, hoặc các chọn lựa sẽ hiện ra ở cuối của cái ngã sông đầy xoáy nước đưa họ khuất xa khỏi tầm mắt quê hương vói theo.
Tôi đã gấp cả hai quyển sách lại, thấy một sự yên tâm thật kỳ lạ xảy đến với mình, điều mà tôi không có được sau bao năm hoàn thành tập sách về Mekong của mình đã cũ.
Trong cảm thức của sự tồn tại tạm bợ, giữa đổi thay không ngừng nghỉ, sự mất mát không bao giờ kết thúc, con người trong truyện của Lý Lan và tập ký của Trương Chí Hùng gợi ý về những khả thể khác khi phải chọn lựa đời sống. Thay vì gắn mình thành những con ốc của định chế nào đó, người ở đồng bằng có định chế riêng mà họ chọn: sông.
Thay vì bị dồn vào đường cùng bởi những kềm toả và gông cùm mới của “văn minh” (trong Bửu Sơn Kỳ Hương - là người Pháp và cuộc xâm chiếm), nhân vật Long có học thức chọn quay về với người mẹ ngơ ngẩn của mình, về với những đứa bé mà mình sẽ phải dạy chữ, phải dạy chúng sống hiền ở lành, thay vì nhậm chức, nói tiếng Pháp thông làu, sống trong một căn phủ mới, và biến mình thành con ốc của một thế giới sẽ nghiền nát cù lao và con nước bên mình.
Lý Lan và Trương Chí Hùng tin tưởng trọn vẹn vào những nhân vật tiểu thuyết và nhân vật có thật họ chọn trong hai tập sách, tin tưởng những nhân vật sẽ vượt qua tao đoạn xiết ngặt nhất của đời sống, sẽ xả được kềm xiết, sẽ bình tĩnh và kiên quả chọn điều tim họ tin, như Trương Chí Hùng vẫn đau đáu đi tìm một chú xe ôm mà anh gặp khi lần đầu lên Sài Gòn, khi chia tay còn nói: “Con dìa mạnh giỏi nghen, cho chú gởi lời thăm bà con mình ở dưới.”
Câu chia tay kỳ diệu nọ, “bà con mình” mà ông xem ôm nhắc đến là ai khi tác giả và ông không hề quen biết nhau, cũng không ở cùng một xóm, “bà con mình” ấy có thể là bất cứ ai, nhưng “lời thăm” ắt là lời tốt đẹp, là sự quan tâm, sự quan tâm trong sự không biết quen nhau, sự quan tâm gửi ra không cần được đáp lại, sự quan tâm của những con người đã quen sống trong một cộng đồng khổng lồ liên tục đổi thay nhưng lại không ngừng gắn bó. Sông tạo thành họ. Họ là một phần của sông. Không biết nhau mà như biết nhau. Không ơn nhau mà như ơn nhau. Có duyên gặp lại thì gặp, không gặp lại cũng không sao.” - như Lý Lan viết.
Niềm xúc động trước trang viết này, tôi đã gặp trong năm tháng ở đồng bằng, gặp trong những con người có thực mà Lý Lan bằng cách nào đó nén vào “Bửu Sơn Kỳ Hương”.
Sau nhiều năm đọc, tôi dần tin rằng văn học chậm rãi trao cho mình sự thật chân phương của tồn tại phức tạp mà mình không cách gì nắm bắt được. Văn học cho mình điều đó khi mình mở mắt ra và ngắm nhìn thế giới người viết nhét vào mỗi trang, như giấu một ẩn niệm mà mình phải giải mã, rồi mình sống, rồi mình quay lại với trang viết, rồi có thể mình không tìm được lời giải nào cho câu hỏi treo lơ lửng, mà lại tìm được nhiều câu hỏi khác để dẫn mình đi tiếp trong năm tháng dài trước mặt.
======
**** Các đoạn trích in nghiêng trong bài lấy từ tác phẩm “Bửu Sơn Kỳ Hương” của Lý Lan và “Con Nước Tha Hương” của Trương Chí Hùng.
Bạn có thể đăng ký nhận bài viết mới qua email miễn phí hoặc qua kênh Telegram tôi sử dụng để thông báo có bài viết mới. Tôi đã tắt chức năng Paid Subscription của Substack, những độc giả đã đăng ký trả phí cả năm sẽ nhận lại được refund phần còn lại của năm vào thẻ mà bạn dùng để chi trả. Từ nay bài viết trên Substack của tôi luôn mở hoàn toàn miễn phí. Cảm ơn sự ủng hộ của bạn trong suốt thời gian qua. Bạn vẫn có thể mời tôi cà phê nếu thích một bài viết nào đó :D





Dạ, em cảm ơn chị. Hiện tại em đang ở Úc, nếu có dịp ghé Melbourne chơi nhớ báo em biết nhé, em xin phép được host chị từ A tới Á luôn ;)(do em định cư bên này). Cảm ơn chị đã luôn chia sẻ thật nhiều bài viết mà mỗi lần đọc, em thật không thể hiểu được, sao chị có thể viết thật đúng , thật gần gũi và rất chân thật về tất cả các khía cạnh của cuộc sống như thế. Nhiều cái em không thể diễn tả bằng lời thì chị đã viết ra được rồi. Em thấy biết ơn cuộc đời vì đã có cơ hội đọc các bài viết của chị.
❤️ Hay quá chị ơi!
Cám ơn Chị! 🤗