Nhiều năm trước, khi tôi lần đầu tiên đi làm việc ở nước ngoài và xảy ra chuyện không ổn ở công ty, mẹ nói trong điện thoại: “Con chán việc thì về nhà, mẹ nuôi chứ có gì đâu. Mình có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo.” - Câu nói đó biến đổi trong suy nghĩ của tôi suốt nhiều năm qua.
Đầu tiên khi nghe mẹ nói, tôi có sự yên tâm, như được mẹ vỗ vai và phủi sạch bụi khỏi áo. Cũng giống như khi cha dạy tôi chạy xe đạp, ông đặt bàn tay sau lưng, như nhắc nhở tôi sẽ không ngã, yên tâm, cứ chạy đi. Tôi thật may mắn khi biết cha mẹ lúc nào cũng sẽ đặt bàn tay ở đó, và dặn dò hãy dũng cảm đạp xe về phía trước, mạnh mẽ sống cuộc sống mà tôi muốn có.
Sau này, tôi có đọc bài thơ “Có Những Ngày” của nhà thơ Nguyễn Thiên Ngân viết:
“Có những ngày chỉ muốn trở về quê
Nằm nghe gió rít qua hàng song cửa
Nói với mẹ: Con không đi làm nữa
Mẹ nuôi con đọc sách hết đời, nghe?
(bạn có thể đọc toàn bài tại đây)
Đây là bốn câu được trích dẫn nhiều nhất của bài thơ đó, tóm gọn một ý đơn giản: được về nhà, không phải đi làm nữa, mẹ nuôi con đọc sách hết đời. Một ý nghĩ thật dễ chịu, dễ chịu đến mức vô số người trẻ cảm thấy cần trích dẫn sự mong đợi được quay về với bé thơ, nơi những khốn khó và vật lộn của kiếp làm người lớn chưa trờ tới với họ, và sẽ được chắn ở ngoài cửa nhờ vòng tay mẹ. Nếu bạn đọc hết bài thơ, có thể bạn sẽ nhận ra ý tưởng tròn trịa dễ thở đó không còn… dễ thở lắm (đa phần người đọc bốn câu thơ “dễ thở” trên không để ý bài thơ dài, trắc trở và khổ sở hơn thế).
Tôi có suy nghĩ về đề nghị của mẹ, nên đủ can đảm xin nghỉ việc sau khi để dành được một mớ lương chờ tìm việc mới. Tôi dọn từ Thái về lại nhà. Hôm dọn nhà, tôi phải đương đầu với số lượng đồ đạc khổng lồ vì đã sống ở đó vài năm. Thứ tôi yêu thích nhất là chiếc xe đạp gấp, vì đã dùng nó để tập thể dục và đi chơi mỗi cuối tuần. Có một hãng hàng không chịu nhận xe đạp, nên nó theo tôi về nhà ở Việt Nam.
Điều tiếp theo tôi không ngờ tới xảy ra là… tôi không thích ở nhà với mẹ. Khi dọn về, tôi nhận ra mình đã rời gia đình từ năm 18 tuổi vì tính rất thích đi xa, rất thích gặp mọi người, làm việc lạ lẫm. Ở nhà mọi thứ đều tốt, mẹ ân cần, cha mua đồ ăn ngon cho. Việc nhà cũng chỉ góp tay vừa phải vì cha mẹ chẳng cần giúp. Nhưng sự chán nản vô độ ập đến và tôi nhanh chóng tìm thứ khác để làm.
Câu chuyện của tôi không có nhiều kịch tính và xung đột. Drama nhất có lẽ là khúc tôi cảm thấy chán quá chịu không nổi phải tìm cách đi chỗ khác.
Nhưng tôi đã nghe những phiên bản đáng sợ hơn của chuyến “về nhà”: một bạn chọn về nhà và nhận ra anh chị ở nhà coi bạn như người giúp việc miễn phí, vừa giặt giũ nấu ăn cho cả nhà, vừa đón các cháu đi học về. Nhưng mọi người trong nhà lại nhìn bạn như kẻ vô dụng (có lẽ họ không biết chi phí thuê người giúp việc làm tất cả chừng đó việc giá bao nhiêu tiền). Mẹ bạn có than bạn là đứa con học cao nhất nhà nay trở thành ăn bám.
Một người tôi biết ở gần nhà cũng dọn về sau khi cô mất việc ở Sài Gòn. Mất việc thì đi tìm việc thôi. Nhưng cô ngày nào cũng phải trả lời mẹ là: đã tìm được việc chưa. Khi cô tìm được việc rồi, thì mẹ cô than thở là việc đó không ngon bằng việc ở Sài Gòn, con dại cái mang, bà cứ nói vậy miết suốt hai năm sau đó. Người này đã phải đi điều trị tâm lý khi sống cùng mái nhà và chịu sự chì chiết vì thất vọng của mẹ.
Về nhà có thể là quãng nghỉ tạm thời để ta suy nghĩ lại xem nên làm gì với thời gian kế tiếp.
Nếu may mắn, gia đình có chỗ sẵn sàng đón bạn trở về. Bạn được nghỉ ngơi, thoát khỏi guồng quay kiệt quệ và nghĩ xem nên làm gì mới. Có nhiều bạn sau khi trở về quê đã nhận ra họ có thể làm ăn thật tốt với nguồn lực từ gia đình, kiếm được thu nhập tốt. Hoá ra ở nhà họ có thể khiến gia đình gần gũi bên nhau và an tâm hơn. Ở gần nhau là quý giá nếu bạn có cha/mẹ bệnh và cần người chăm sóc ở bên.
Nếu không may, bạn trở về và mang theo cả những hiềm khích vì áp lực sống cạnh nhau dồn lên bạn. Nhà không có phòng dư, sinh hoạt chung bất tiện, kỳ vọng của cha mẹ bị hụt hẫng, thái độ của anh chị em, các cháu, ánh nhìn phán xét của hàng xóm. Sự thiếu thốn trở nên nghiệt ngã hơn, và phóng to vào bạn, va đập đau đớn hơn vào cơ thể bạn (như bạn tôi đã bị anh chị đối xử như một người giúp việc không công).
Sau khi “vận tải” ngôi nhà từ Thái về Việt Nam, thỉnh thoảng tôi nhìn chiếc bàn đứng làm việc và cảm thấy tiếc nuối. Tôi rất thích đứng từ ban công và viết. Chiếc bàn đứng giúp tôi nhìn thấy chim đứng ăn quả ngoài cửa sổ. Căn hộ ở Bangkok nhìn ra một khu vườn nhỏ. Cây mận trái đung đưa và có nắng. Gia đình tôi không có ban công, nên chiếc bàn vứt vào xó nhà. Tôi ngồi học trong phòng kín. Hai tháng ở nhà với mẹ đã giúp cảm xúc của tôi khoẻ lại, những đau đớn, u sầu giảm bớt. Tôi có đủ sức để tiếp tục sống. Tôi nhớ cảm giác tự do khi ở một mình và quyết định làm việc khác để rời nhà, thay vì ở nhà cho mẹ nuôi.
Tôi cũng không để mẹ nuôi. Vì mẹ sống bằng chút tiền tiết kiệm nghỉ hưu và cha có chút lương hưu. Để người già nai lưng nuôi đứa con khoẻ mạnh trong tuổi lao động là không ổn. Cha mẹ không thể tiếp tục cõng trên vai đứa con vô dụng lớn lềnh khênh sau khi đã nuôi nó trưởng thành.
Nếu không về nhà thì sao?
Sau này, tôi tự hỏi khi rơi vào khủng hoảng thì phải làm gì? Có nên về nhà không? Có nên để cha mẹ “gánh” mình trên lưng như dạo đó? Có cách nào khác để hồi phục như người trưởng thành, chịu trách nhiệm về bản thân thay vì đổ trách nhiệm lên lưng người thân?
Trong quyển tiểu thuyết “The Big Green Tent” của nhà văn người Nga Lyudmila Ulitskaya có ba nhân vật là bạn thân: Ilya, Sanya và Mikha. Sanya được mẹ và bà chăm sóc. Ilya có mẹ ở gần, bố ở xa với người vợ của ông, nhưng thỉnh thoảng về thăm. Mikha mồ côi cả cha lẫn mẹ, bị đưa đẩy từ nhà người họ hàng này qua người họ hàng khác.
Trong những năm lớn lên, khi Sanya bị thương, cậu được bà và mẹ đưa tới bệnh viện chăm sóc, và sau đó đưa cậu đến viện vật lý trị liệu để tiếp tục được trị bệnh. Ilya chỉ sống với mẹ, nên cậu tự học cách sửa chữa nhà tắm, nhà bếp, tự ra đường làm thêm kiếm tiền để mua phim chụp ảnh. Mikha không dựa vào ai, ngược lại đã chủ động trở thành chỗ dựa cho người dì và con của dì khi họ đau bệnh.
Ba nhân vật với ba hoàn cảnh khác nhau đã xoay sở với cuộc sống bằng những gì họ có. Sự thiếu thốn cha, hoặc cả cha và mẹ, đã khiến hai nhân vật buộc phải trưởng thành sớm hơn tuổi, phải tự đương đầu với những biến cố ập đến với họ. Họ phải trở thành một cây trụ trong ngôi nhà vì nhà thiếu trụ cột.
Trở lại với câu hỏi: có nên về nhà vì bị cuộc đời hạ gục không?
Vẫn nên chứ nhỉ, nếu ta có mái nhà để về. Vẫn nên nhớ có bàn tay đỡ ở sau lưng, và tin rằng ta không thể ngã. Đôi khi niềm tin lớn hơn sự thật, và có xu hướng hoá thành sự thật nếu ta kiên trì tin tưởng. Nếu có sự động viên để tin rằng bản thân không thể ngã, ta thường đủ can đảm để tiếp tục hành trình. Mái nhà quan trọng chứ nhỉ.
Nhưng ở góc độ khác, tôi phân vân rằng mình có thể sẽ không bao giờ thực sự trưởng thành nếu luôn dựa dẫm vào cha mẹ mỗi khi ngã xuống. Tôi không thể tự tạo nên mái nhà của chính mình.
***
Năm tôi 5 tuổi, cha tôi mua được miếng đất đầu tiên của gia đình. Ông đã dành 1 năm trời để tự tay xây ngôi nhà. Cả nhà ban đầu sống trong cái lều gỗ nhỏ ông xây tạm sau khi mua đất. Hàng ngày sau khi xong việc ở công ty, ông sẽ tiếp tục đo đạc, mua gỗ, đóng gỗ, dựng từng phần, có khi làm tới 8 giờ tối mới nghỉ. Sau đó là căn bếp thành hình, mái hiên chống mưa, rồi tới bức tường xây bằng xi măng và gạch đầu tiên của gian nhà chính, nền xi măng. Cha tôi tự đi theo hỏi thợ xây trong xóm tỷ lệ trộn hồ, cách trộn sao cho tốt, cách láng nền.
Ông nhờ vài người bạn chung công ty tới giúp lợp mái nhà trong vài hôm. Sau đó cứ túc tắc ngôi nhà thành hình. Cha tôi đã tự tay xây ngôi nhà đầu tiên từ đầu đến cuối khi ông hơn 37 tuổi (trẻ hơn tôi bây giờ). Ngôi nhà đó là tổ ấm của chúng tôi 5 năm kế tiếp, vững chãi, vừa đủ. Khi xây nhà, ông có nghĩ là ông đã trở thành người đàn ông thực sự không? Khi xây nhà, ông có nghĩ ông đã tạo ra tổ ấm và chỗ dựa cho một người phụ nữ và một đứa trẻ không? - Ở độ tuổi của ông ngày đó, tôi vẫn thỉnh thoảng loay hoay gọi điện đòi tìm cách về nhà sau khi thất bại công việc.
Cha có bao giờ nghĩ ông đã sinh ra một đứa con dựa dẫm và không bao giờ lớn?
***
Các nhà văn thường lãng mạn hoá chuyện được trở về nhà, được quay lại là trẻ con. Được thơ ngây như ban đầu. Được từ chối gánh chịu rắc rối của thế giới người lớn. Được quyền quay lưng không phải đối thoại với những điều mình không ưa. Được mặc kệ thế giới xoay quanh trục của riêng nó và mình có bàn tay chăm sóc vô điều kiện. Được ré lên khóc nếu không hài lòng.
Có vài rắc rối khi làm trẻ con mà không ai muốn nhớ tới. Đứa trẻ không có quyền chọn bỏ học nếu cha mẹ muốn nó bò ra học. Đứa trẻ không có quyền chọn không ăn thứ nó không ưa. Nó phải ăn theo ý cha mẹ. Đứa trẻ cũng bất lực trước lời hứa xạo của người lớn, và chỉ có thể mang theo sự thất hứa như một hành trang thất vọng trong đời. Đứa trẻ có thể bị từ chối, bị bỏ rơi, bị mặc kệ. Phần này không ai nhắc tới khi nói về ý định trở về tuổi thơ.
Tôi muốn được làm người lớn, nghĩa là biết tự chịu trách nhiệm, hay giống như cha tôi, biết tự xây ngôi nhà vì ông tạo ra một gia đình.
Cuộc sống tạo cơ hội cho ta hiểu “trưởng thành” có nghĩa là gì, và trải nghiệm đó không hề có mẫu số chung với mọi người. Có người trưởng thành từ khi còn là đứa trẻ lớp Năm, như Mikha trong The Big Green Tent, có người trưởng thành khi có vợ con như cha tôi, có người trưởng thành khi họ phải đương đầu với sự mất mát lớn, như người bạn tôi mất cha và bạn trở thành anh cả của hai đứa em nhỏ. Ta chỉ hiểu sự trưởng thành là gì khi tự mình đi qua phần đời dành cho mình.
Tôi có thể chưa thực sự hiểu trưởng thành là gì, nhưng liệu có cách nào tái tạo hình ảnh “về nhà” cho chính mình không, để đánh lừa bản thân cũng được, làm sao để hồi sức đi qua khó khăn? - Như ngôi nhà của mẹ, như lời đề nghị quay về, như sự chở che để được hồi phục.
Trong khoảng 9 năm sống trên một chiếc camper van, đi từ nơi này qua nơi khác, tôi mất không gian tĩnh lặng để hồi phục, vì chiếc xe thì nhỏ, và không có nơi nào đủ “tĩnh tại” khi đang di chuyển từ nơi này đến nơi khác.
Một lần, chúng tôi cắm trại bên bờ biển cạnh một cậu trai.
Cậu có một chú chó nhỏ. Ở sát cửa xe là cái đệm cho chó nằm. Kế bên đệm là một chiếc bàn/kệ bé: ở đó là hai cuốn sách, một cái bình hoa gắn chặt vào kệ, một bó hoa khô nhỏ treo trên cửa, và một đĩa đựng nhang thơm. Cái kệ được trang trí đèn nhấp nháy bé xíu. Buổi tối, trước khi đi ngủ, cậu pha trà, thắp một tim nhang thơm, uống trà và đọc vài trang sách hoặc nhìn ra ngoài trời đêm từ bên trong cửa kính. Đèn nhấp nháy và mùi nhang thơm khiến chiếc xe nhỏ nhưng lại giống một tổ ấm hơn là một chỗ ngủ tạm bợ.
Cậu kể là ở nhà cậu thường sẽ cắm nhang thơm ở trên bục cửa và nằm đọc sách tới khuya. Ở đây cậu cũng làm như vậy.
Thay vì xây một ngôi nhà như cha tôi, cậu làm ra một góc nhà để mang theo khắp nơi. Mùi nhang, ánh đèn, cuốn sách, hoa khô, giống với sự cố định ở một ngôi nhà.
***
Ta có thể gói “ngôi nhà” vào túi và mang theo trên hành trình mới?
Mùi hương của món ăn quen thuộc ngày bệnh. Ánh sáng trong căn phòng khiến mình dễ ngủ. Mùi của loài hoa mọc bên cửa sổ ngày bé. Thậm chí mùi… loại bột giặt mẹ hay dùng, gợi cho ta nhớ buổi sáng phơi đồ trong veo, nắng đẹp, không có sự dấy loạn nào khiến ta giật mình lo sợ. Chiếc đinh cảm xúc nho nhỏ có thể gợi về mái nhà, nơi ta có thể về, nhắc ta về những người sẽ cho phép mình trở về, ở bên mình. Có người không nhà ở Mexico từng khoe với tôi trong chiếc lều của ông có một chiếc nón rất cũ bằng da, và rất đẹp, là chiếc nón cha ông cho ngày ông rời Mexico đi Mỹ. Ông làm ăn bất thành, khi trở về thì cha mẹ đã mất, rồi tự lưu lạc rày đây mai đó. Nhưng chiếc mũ vẫn còn, cha ông vẫn ở đây, che mùa gió lạnh ngang đầu.
Người du hành mang theo “ngôi nhà” họ nhung nhớ đến vùng đất mới.
Nếu bạn ở California, thỉnh thoảng đi qua một ngôi nhà có bụi chuối, bụi dong, bạn ngần ngừ đoán được đó có thể là một gia đình Việt Nam. Trồng chuối hay dong giúp tiết kiệm khi đến Tết cần làm bánh. Nhưng bụi chuối cũng là cảnh quan của đời sống quen thuộc họ từng có nhiều năm trước. Người Palestine, sau khi trải qua hàng chục năm chết và sống trên chính quê hương mình, thường kể câu chuyện cây olive là dấu hiệu của quê hương. Họ đi đến đâu sẽ trồng cây olive ở đó. Cây olive có thể sống hàng trăm năm để làm nhân chứng cho quê hương của họ.
Mái nhà có thể là bất cứ gì, không nhất thiết phải có bốn bức tường và một mái ngói che mưa, không nhất thiết bao gồm người mẹ rạc gầy mong mỏi chờ con quay về. Chúng ta có công bằng với mẹ không, khi luôn kỳ vọng bà sẽ ngồi im vượt qua thời gian và sự nhàm chán để sẵn sàng mở cửa đón mình? Trong mọi câu chuyện, mẹ luôn là mái nhà. Nếu có phép màu, bà mẹ sẽ biến luôn thành tường và trần nhà cho cố định.
Có khi vì sự kỳ vọng của đứa con, bà mẹ không chịu bắt đầu thế giới của riêng họ khi con cái đã trưởng thành. Họ đóng vai chờ đợi. Họ tiếp tục chăm sóc, lo lắng cho cái bóng vô hình đang sống đời sống của người lớn ngoài kia. Mẹ sợ nếu mẹ bận rộn sống đời sống riêng, khi con yêu trở về nhà sẽ không ai nấu cơm, chăm sóc. Mẹ sợ sẽ không còn nơi để về cho đàn con.
Tôi muốn công bằng hơn với mẹ, và nhận lấy phần trách nhiệm làm người lớn của mình. Trong khổ sở, tôi tìm cách đứng ngoài thế giới và gọi sự dũng cảm về với chính mình, nhờ bạn bè giúp, hỏi người xung quanh làm sao.
Tự xoay sở khiến tôi nhìn ra mình không cần phải chạy về nhà trốn khi đời sống đấm mình gục xuống. Đâu ai nằm im đó chịu trận mãi, phải không? - Cha mẹ tôi không thể chạy trốn về nhà ông bà nội/ngoại khi đời sống giáng cho họ nhiều đòn chí mạng. Trong suốt thời gian tôi lớn lên, họ ở cạnh tôi. Đó là cách họ học làm người trưởng thành.
Nhà thơ Ko Un (Hàn Quốc), viết một bài thơ tên “Nhà”. Trong bài thơ có đoạn:
Home is far away.
The womb that contained you,
the village where you were born,
the neighboring village where you used to play :
none of those places is home.
Tạm dịch:
Nhà ở nơi xa.
Tử cung dung chứa người,
ngôi làng nơi người sinh ra,
làng bên cạnh nơi người ghé chơi,
Không nơi nào là nhà.
Bài thơ sẽ còn đi xa hơn nữa đến sự trống rỗng trong khi người luôn mỏi mắt đi tìm mái nhà.
***
Sự thật là, chúng ta không được trở về. Trong những nhớ nhung bé thơ, hoặc trong hồi ức phần nhiều lãng mạn hoá quá khứ, ta nghĩ mình nên được trở về. Nhưng đứa trẻ yếu ớt (và cũng chiếm ít chỗ) ngày đó đã không còn như xưa, ta là người lớn, đòi hỏi chỗ ngủ riêng, món ăn mình thích, đòi hỏi người thân không chen vào cuộc sống riêng, tình bạn, tình yêu…. Ta cần không gian tồn tại mà mái nhà xưa đã hoá ra chật hẹp, dù mang thành ý che chở, cũng không thể gói ta lại như đứa bé nằm co trong lòng mẹ thuở xưa cũ.
Mỗi lần trở về nhà, tôi lại đi bộ trên đường đi học xưa, nhớ lại đứa bạn thân mình gắn bó, những buổi chiều mẹ bán hàng về muộn. Nhưng khi đi bộ ra ghế đá cuối xóm, những người phụ nữ bạn của mẹ vây lại quanh tôi hỏi: “ủa về chơi thì cho mẹ nhiêu tiền?”, “làm ăn bên đó chắc giàu dữ hả?” - Tôi thường chật vật luồn lách giữa các câu hỏi không hề ngần ngại của họ, trả lời thế nào cũng không vừa được mình, vừa được người, và cái sự “người lớn” cho tôi thêm phần khảnh vẻ không muốn phải luỵ trước ai hỏi mình xấn xổ. Vậy đó, mái nhà thì như xưa, hàng xóm cũng như chưa, chỉ có tôi không còn như xưa.
Vậy là tôi học cách tự tạo mái nhà của mình, để lúc mỏi chân yếu mềm cần quay về tự tôi chính là mái nhà ấy, nơi vừa vặn hơn với “kích cỡ” người lớn của tôi. Nơi tôi nhận ra mình có thể là chỗ dựa của chính mình, và bạn đời của mình.
Nhà của mẹ vẫn là nhà của mẹ. Nồi nước dùng nấu phở của mẹ sẽ đợi tôi về ăn tối cùng mẹ. Nhưng tôi không cần trở về như con vạc lếch xếch, lông tóc rối nùi, thương tích đầy mình, để mẹ tần tảo đút ăn nữa.
Bạn có thể đăng ký nhận bài viết mới qua email miễn phí hoặc qua kênh Telegram tôi sử dụng để thông báo có bài viết mới.
Một số sách của tôi đã xuất bản mà bạn có thể tìm mua:





Ngoài câu "có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo", mẹ mình còn có câu "không có gì thì mẹ con rau cháo qua ngày". Nhiều lúc nghĩ đến câu đó mình bật cười. Mà cười xong rồi lại nghĩ. Trên mạng người ta ngưỡng mộ và thèm được ở bên cha mẹ "trong từng bữa ăn", nhưng mà câu chuyện đâu phải chỉ là những bữa ăn. Trong vòng lặp của những bữa ăn đó (nghe đã thấy nhàm chán), còn cơ man là những chuyện vụn vặt có thể gặm nhấm tâm trí người ta (từ chính những người trong cuộc, và những người ngoài cuộc, như Phương viết trong bài này). Hẳn là để ở bên nhau trọn vẹn trong từng bữa ăn, thì những người trong cuộc (ít nhất là có một người) phải bình ổn lắm, về mặt tâm lý, để không gây thương tích cho những người còn lại. Cố nhiên vẫn có những người sẵn sàng chịu đựng (chủ động hoặc bị động) để làm điều đó, nhưng đấy là một câu chuyện khác.
Mình thấy cái không gian riêng đó là cuộc sống riêng mà mỗi người phải tự có cho mình, để nghĩ về những bữa ăn chung không phải là một vòng lặp, để nghĩ về người thân không chỉ là những trách móc vụn vặt. Nói "xa thơm gần thối" nghe hơi phũ phàng nhưng đấy là sự thật mà bản thân mình từng trải qua.
Bài viết rất chạm với mình, cảm ơn Phương nhiều.
Cảm ơn chị vì một bài viết đến với em đúng lúc ạ. Em đã từng chỉ mong được về nhà với mẹ trong những ngày làm việc mệt mỏi và hơi chán chường tại văn phòng, đến nỗi mọi người lấy đó làm một hình ảnh đáng nhớ của em. Tới khi công việc chấm dứt, em trở về với vòng tay mẹ và lời an ủi đúng như dòng chị viết, cảm giác ấm áp và nhẹ nhàng bắt đầu. Nhưng ngay sau đó là những ngày bứt rứt và nhiều lúc không hoàn toàn thoải mái, và em nghĩ mình cần phải chạy trốn. Em nhớ về lúc mình khao khát không gian riêng khi mới lên Đại học và ghen tị với chúng bạn thế nào. Những đứa như em đều đồng ý rằng lý tưởng là khi mình tìm được không gian và mái nhà riêng cho mình, trong một cái nôi của điểm tựa phía sau - là nhà là mẹ ạ.